Blog Tin Học

-ĐỀ-CƯƠNG-TRIẾT-2 – Đề cương triết 2- Đề cương triết

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT 2

Câu 1: Phân tích điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa ● Khái niệm nền sản xuất hàng hóa Là một kiểu tổ chức kinh tế- xã hội trong đó sản phẩm được làm ra để trao đổi, mua bán trên thị trường. Trong đó, mua bán là hình thức trao đổi mà tiền là phương tiện môi giới còn thị trường là nơi diễn ra mua bán, trao đổi hàng hóa-> thôngtin để nhận biết sản xuất hàng hóa. Sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế-xã hội mà trong đó sản phẩm được tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu của người sản xuất ● Đặc trưng, ưu thế của sản xuất hàng hóa SXHH SXTCTC

ục đích sản xuất Tối đa hóa lợi ích c vụ nhu cầu người sản xuất

Xem thêm: đề cương ôn tập triết 2

chất nền sản xuất Mở Đóng Đặc trưng Cạnh tranh (xu hướng phát triển) rì trệ, cố thủ, cầm chừng Sự vận động Quy mô (1-n) 1- hủ thể kinh tế ● (2-n) ● Năng động, sáng tạo, nhạy bén ● Khách quan ● Người tiêu dùng thông thái

 1

 Bằng lòng, cổ hủ, định kiến  Chủ quan

Kết quả chất, đời sống vật chất-tinh thần đa dạng, phong phú

nghèo nàn vật chất-tinh thần

● Điều kiện ra đời ● Phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành cácngành, nghề khác nhau. Kéo theo sự phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất: mỗi người chỉ tạo ra một vài loại sản phẩm nhất định, nhưngnhu cầu của cuộc sống đòi hỏi phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó họ cần đến sản phẩm của nhau buộc phải trao đổi hàng hóa để thảo mãn nhu cầu mỗi người. ● Tính tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuấtmà khởi thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sởhữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động. Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập vớinhau nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Trong điều kiện ấy, người này muốn tiêu dùng hàng hóa của người kia buộc phải thông qua trao đổi, mua bán.

Câu 2: Trình bày khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa. Phân tích mối quan hệ của hai hàng hóa đó? *Khái niệm: Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán. Ví dụ: Hàng hoá có thể ở dạng hữu hình: Lương thực, thực phẩm, sắt,thép … hoặc ở dạng vô hình như những dịch vụ: Vận tải, thương mại hay sự phục vụ của giáo viên, bác sỹ, nghệ sỹ… ***Hai thuộc tính của hàng hoá:

  • Giá trị sử dụng (UV): là công dụng của hàng hoá có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.** Ví dụ: Giá trị sử dụng của cơm là để ăn, của áo là để mặc, của máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu là để sản xuất…
  • Giá trị sử dụng làm cho hàng hóa khác nhau về chất (yếu tố tự nhiên cấu thành, cách khai thác, chủ thể sử dụng).
  • Giá trị sử dụng hàng hoá là do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quyết định. Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn. Xã hội loài người càng phát triển thì càng phát hiện ra nhiều thuộc tính tự nhiên có ích của hàng hóa và lợi dụngnhững thuộc tính tự nhiên đó để tạo ra nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Chẳng hạn, than đá ngày xưa chỉ dùng làm chất đốt, nhưng khi khoa học kỹ thuật phát triển nó cònlàm nguyên liệu cho một số ngành công nghệ hoá chất.
  • Giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. – Giá trị của hàng hoá:
  • Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng giữa 1 giá trị sử dụng này với 1 giá trị sử dụng khác. xA = yB (trong đó: (x,y): tỷ lệ về lượng; (A,B): GTSD) Điều kiện trao đổi: A khác B (phản ánh mục đích) Cơ sở của trao đổi: A, B đều là sản phẩm của lao động, là kết quả của lao động, là kết tinh của quá trình sản xuất. VD: 2m vải = 10 kg thóc.
  • Giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hoá (hay Giá trị là hao phí lao động kết tinh trong hàng hóa)
  • Giá trị chỉ được thực hiện thông qua trao đổi. Sản phẩm nào mà lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao => Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Giá trị là nội dung, là cơ sở củaGT trao đổi, còn GT trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị.
  • Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa. *** Mối quan hệ giữa 2 thuộc tính:** Hai thuộc tính của hàng hóa có mối quan hệ ràng buộc với nhau, vừathống nhất vừa mâu thuẫn:
  • Thống nhất: Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong mộthàng hoá. Nghĩa là một vật phải có đủ hai thuộc tính này mới là hàng hoá. Nếu thiếu một trong hai thuộc
  • Thời gian lao động cá biệt: hao phí thời gian (lao động) cá biệt để sản xuất hàng hóa => Quyết định lượng giá trị cá biệt. – Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm trong điều kiện xã hội trung bình (trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình, cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định).
  • Công thức:t- = ti trong đó: t i là hao phí lao động cá biệt; q i là sản lượng cá biệt;i=1,n⃐; n∈N* (Z+): số nhóm sản xuất (trong 1 ngành)

*** Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa**

  • Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động. Nó được đo bằng lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Khi năng suất lao động tăng lên nghĩa là khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên trong cùng thời gian lao động làm cho thời gian lao động cần thiết đẻ sản xuất 1 đơn vị hàng hóa giảm xuống. Do đó, khi năngsuất lao đọng tăng lên, giá trị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại. – Cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động. Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (khối lượng) hàng hóa sản xuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng nên giá trị hàng hóa không đổi. Tăng cường độ thực chất cũng giống kéo dài thời gian lao động nen hao phí lao động trong 1 đơn vị sản phẩm không đổi. – Mức độ phức tạp của lao động : Lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cầnqua đào tạo cũng có thể thực hiện được. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phảiđược đào tạo mới có thể tiến hành được. Trong cùng thời gian, lao động phức tạp tạonhiều giá trị hơn lao động giản đơn. Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên. **Câu 5: Trình bày nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ?
  • Nguồn gốc của tiền:** Tiền xuất hiện khi trao đổi và sản xuất hàng hóa ngày càng phổ biến. Tiền tệ là giai đoạn phát triển cao của các hình thái giá trị. Từ vật ngang giá ngẫu nhiên vật ngang giá đặc thù vật ngang giá chung vàng và bạc (mang giá trị). – Bản chất của tiền tệ: ● Hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung thống nhấtcho tất cả các hàng hóa. Thể hiện lao động xã hội Biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. ● Chức năng của tiền tệ:

● Thước đo giá trị: tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị hàng hóa.

Khi đó, giá trị hàng hóa biểu hiện bằng 1 lượng tiền gọi là giá cả. Giá cả

hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị, nó có thể lên xuống

xung quanh trục giá trị nhưng tổng giá cả luôn bằnggiá trị.

● Phương tiện lưu thông

● Công thức lưu thông: H – T – H: Trong công thức này, tiền trở thànhphương tiện ]trao đổi hàng hóa giữa người mua và người bán, làm cho hành vi mua-bán có thể tách rời nhau cả về không gian và thời gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế

● Qui luật lưu thông tiền tệ: người bán đỏi hàng lấy tiền rồi lại lấy tiền đó để mua hàng hóa mà mình cần, do đó, tiền chỉ đóng vai trò chốc lát trong lưu thông ● Công thức số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông: M = (P)/V Trong đó: M-phương tiện cần thiết cho lưu thông P-mức giá cả Q-khối lượng hành hóa lưu thông V-số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiềntệ

● Phương tiện thanh toán: tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu

hàng..ền làm phương tiện thanh toán có tác dụng đáp ứng kịp thời những nhu cầu của người sản xuất hay tiêu dùng ngay cả khi họ chưa có hoặc không có đủ tiền. Nhưng nó cũng làm cho khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên nếu hệ thống chủ nợ-con nợ bị phá vỡ.

● Phương tiện cất trữ : tiền được rút khỏi lưu thông và cất giữ lại để khi cần mang

ra mua hàng. Chỉ có tiền vàng, tiền bạc, các của cải bằng vàng mới thực hiện được chức năng lưu trữ. Ngoài ra, tiền còn có tác dụng đặc biệt là dự trữ cho lưu thông.

● Tiền tệ thế giới: chức năng này xuất hiện khi tiền ra ngoài biên giới quốc gia,

hình hành quan hệ buôn bán giữa các nước. Việc trao đổi tiền củanước này sang tiền của nước khác phải tuân theo tỉ giá hối đoái, tức là giá cả của một đồng tiền nước này được tính bằng đồng tiền của nước khác.

HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

Câu 6: Điều kiện để tiền trở thành tư bản? Điều kiện 1: Tiền phải đủ lớn để mua được tư liệu sản xuất và được sử dụng để bóc lột sức lao động của người khác. Điều kiện 2: Tiền phải được đưa vào lưu thông. **Câu 7: So sánh hai công thức: H – T – H (1) và T – H – T’ (2)

  • Giống nhau: đều phản ánh sự vận đông, quan hệ chung của kinh tế hàng hóa:**
  • (1) và (2) đều bao gồm hai hành vi đối lập nhau là mua và bán.
  • Hai yếu tố vật chất đối diện nhau là tiền và hàng.
  • Đều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán – Khác nhau:

Công thức Trình tự

Vị trí yếu tố

Mục đích vận động

Lưu thông HH giản đơn H – T – H Bắt đầu bằng việc bán (H – T) và kết thúc bằng việc mua (T – H). H vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc, T đóng vai trò trung gian. Giá trị sử dụng, H phải có GTSD khác nhau.

Có giới hạn

Lưu thông của tư bản T – H – T’ Bắt đầu bằng việc mua (T – H) và kết thúc bằng việc bán (H – T). T vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc, T ứng ra rồi thu về, H là trung gian. Giá trị, giá trị tăng thêm công thức đầy đủ là: T – H – T’ (T’=T+∆T);∆Tlà giá trị thặng dư. Không có giới hạn

● Quá trình sản xuất giá trị thặng dư Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trìnhsản xuất ra giá trị sử dụng và giá trị thặng dư. Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hóa, với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động với quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá tình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hóa.

  • Giả định _Lao động sản xuất trong điều kiện trung bình, thời gian lao động cá biệt bằng thời gian lao động xã hội _Giá trị của nguyên vật liệu được bảo toàn và chuyển hết vào sản phẩm mới (giá trị=giá cả), hàng hóa được trao đổi dựa trên nguyêntắc ngang giá. +Ta xét ví dụ sản xuất sợi bông của một nhà tư bản với giả định giá bông là 1$/kg, tiền thuê 1 nhân công là 3$ và 1h 1 nhân công tạo ra 0,5$ Chi phí sản xuất (10kg sợi-6h) Giá trị sản phẩm mới NVL (Bông) :10$ Giá trị bông được chuyển vào sợi :10$ Hao mòn máy móc :2$ Giá trị máy móc được chuyển vào sợi :2$ Tiền công (GTSLĐ) :3$ Giá trị do sức lao động tạo ra :0,5$.6h=3$ Tổng chi phí :15$ Giá cả của 10kg sợi :15$ Từ bảng trên cho thấy nếu quá trình lao động chỉ kéo dài đến điểmbù đắp giá trị lao động, tức là bằng thời gian lao động tất yếu thì chưa sản xuất giá trị thặng dư (m=0). Cũng với giả định trên, khi nhà tư bản buộc công nhân làm 12h-20kg sợi thì tổng chi phí lúc này là 27$ trong khi giá cả hàng hóa là 30$. Điềunày đã đem lại cho nhà tư bản một giá trị thặng dư m=3$.
  • Từ ví dụ trên ta có thể rút ra những kết luận sau: ● Về cơ cấu giá trị cảu sản phẩm mới W = Giá trị cũ + Giá trị mới = Giá trị của TLSX + Giá trị do SLĐ tạo ra (= Giá trị SLĐ+GTTD) Vậy giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giátrị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. ● Về phân chia ngày lao động Ngày lao động của công nhân được chia thành 2 phần: phần ngày laođộng mà công nhân tạo ra lượng giá trị ngang với giá trị sức lao động mình bỏ ra gọi là thời gian lao động tất yếu và phần còn lại của ngày lao động gọi là thời gian lao động thặng dư. Giá trị thặng dư sẽ được tạo ra trong khoảng thời gian lao động thặng dư. ● Giá trị thặng dư là mục đích của tư bản vì:

Giá trị thặng dư phản ánh mối quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với công

nhân làm thuê khi giá trị hàng hóa tạo ra do sức lao động của côngnhân nhưng lại bị

nhà tư bản chiếm không. Giá trị thặng dư là cội nguồn sinh ra sự giàu có, sung

túc vì xuất hiện giá trị mới, là mục đích của bất kì nhà tư bản nào. Giá trị thặng

dư càng tăng chứng tỏ nhà tư bản đó càng giàu có, khiến họ không ngừng sản

xuất ra giá trị thặng dư, thúc đẩy tái sản xuất, mở rộng quy mô và tăng cường bóc

lột.

Câu 10:Phân tích 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bảnại sao nói phương pháp sản xuất tương đối là đặc trưng cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa? Tại sao nói GTTD siêu ngạch là hình thức biến tướng của GTTD tương đối? ● Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Sản xuất giá trị thặng dưtuyệt đốilà phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện trên cơ sởkéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không đổivà giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối. Với lòng tham vô hạn, các nhà tư bản tìm đủ mọi cách để kéo dài ngàylao động, nâng cao trình độ bóc lột sức làm thuê. Nhưng một mặt, do giới hạn tự nhiên về sức lực con người, giới hạn về tinh thần, xã hội, mặt khác do đấu tranh quyết liệt của công nhân đòi rút ngắn ngày lao động nênngày lao động không thể kéo dài vô hạn. Tuy nhiên ngày lao độngcũng không thể rút ngắn đến mức bằng thời gian lao động tất yếuột hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối làtăng cường độ lao độngvì nó giống kéo dài thời gian lao động trong ngày. ● Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện bằng cáchrút ngắn thời gian lao động tất yếulại để kéo dài thời gian lao động thặng dư trên cơ sởtăng năng suất lao động xã hộitrong điều kiệnđộ dài ngày lao động không đổivà giá trị thặng dư sản xuất ra bằng phương pháp này gọi là giá trị thặng dư tương đối. Việc tăng năng suất lao động trước hết ở các ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làmgiá trị sức lao động giảm xuốngdo đó làgiảm thời gian lao động cần thiết độ dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư-thời gian sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản. Để giành ưu thế cạnh tranh, thu được nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản đã áp dụng tiến bộ kĩ thuật mới vào sản xuất, cải tiến tổ chức sản xuất, hoàn thiện phương pháp quản lí kinh tế nâng cao năng suất lao động. Kết quả là giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội. Nhà tư bản nào thực hiện được điều đó sẽthu được giá trị thặng dư vượt trội hơn (giá trị thặng dư siêu ngạch).

Sở dĩ phương pháp này là đặc trưng của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vì

bản chất của nó là làm tăng năng suất lao động khiến cho thời gian lao động cá

biệt giảm xuống, dẫn đến thời gian lao động tất yếu giảm từ đó làm tăng đáng kể

trình độ bóc lột. Đồng thời, đối với sản xuất GTTD tương đối, thời gian lao động

không đổi thậm chí có thể giảm và vẫn có giới hạn dưới là thời gian lao động tất

yếu còn giới hạn trên chỉ tương đối nên n ó phù hợp với khả năng lao động của

người công nhân, giúp họ có thời gian tái sản xuất sức lao động. Phương pháp này được áp dụng trong suốt thời kì CNTB, phù hợp với khả năng lao độngcủa công nhân và mang lại lợi nhuận cao.

● Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư

tương đối vì:

● Cả hai đều dựa trêncơ sở tăng năng suất lao động, do người công nhân

tạo ra

● Địa tô (r) Tư bản nông nghiệp là bộ phận lạc hậu nhất, chậm-muộn-lâu đời nhất (chủ thể là người nông dân, cơ chế kinh tế cứng nhắc, chịu ảnh hưởng của cácyếu tố khách quan đặc biệt là điều kiện tự nhiên). Địa tô là khoản phải trả của người đi thuê với người cho thuê về quyền sử dụng ruộng đất trong một thời gian nhất định, biểu hiện dưới 2 hình thức: ● Địa tô chênh lệch (= giá cả sx chung-giá cả sx cá biệt) ● Địa tô tuyệt đối (=giá trị nông sản-giá cả sản xuất chung) Dù biểu hiện dưới hình thức nào nhưng mang bản chất là lợi nhuận siêu ngạch, là hình thức biểu hiện của m nên địa tô TBCN vẫn phản ánh mối quan hệ bóc lột, phản ánh sự áp đặt của địa chủ lên nông dân. Biểu hiện của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong hình thái tư bản thương nghiệp

Khais nieem j: Tư bản thương nghiệp hay tư bản hàng hóa là một bộ phận

tách ra trong quá trình tuần hoàn của TBCN, thực hiện chức nănglưu thông và

diễn ra hoàn toàn trên thị trường.

Tư bản thương nghiệp vừa phụ thuộc và tư bản công nghiệp vừa độclập

với tư bản công nghiệp, nó không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.

Vai trò :

-tăng năng suất->tăng m’->tăng p’->tăng p’;

-trung gian giữa tư bản công nghiệp và người tiêu dùng;

-tốc độ chu chuyển tăng->tăng p’->giảm chi phí lưu thông;

-tăng tính tiện dụng trong tiêu dùng.

Tư bản thương nghiệp góp phân gián tiếp tạo ra ngày càng nhiều giá trị

thặng dư->xứng đáng hưởng thành quả “lợi nhuận thương nghiệp”

Lợi nhuận thương nghiệp (ptn) là một bộ phận giá trị thặng dư được tạo

ra trong xã hội, do TBCN trả cho TBTN vì thay mình lưu thông hàng hóa

Ptn= giá bán-giá mua

Tham khảo: Lý thuyết giao thoa sóng cơ

Câu 12:

a. Vì sao tư bản cho vay là hàng hóa đặc biệt? Nguồn gốc và bản chất của lợi tức?

Tư bản cho vay là hàng hóa đặc biệt:

Tư bản cho vay là hình thức tư bản xuất hiện từ trước chủ nghĩa tư bản. Điều kiện tồn tại của hình thức tư bản này là sản phẩm trở thành hàng hoá và tiền tệ đã phát triển các chức năng của mình. Trong xã hội tư bản, tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ của nó cho nhà tưbản khác sử dụng trong thời gian nhất định để nhận được số tiền lời nào đó (gọi là lợi tức z).

Tư bản cho vay là hàng hóa đặc biệt, thể hiện ở những đặc điểm khác căn bản:

Một là, quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tư bản. Đối với người cho vay nó là tư bản sở hữu, đối với người đi vay nó là tư bảnsử dụng.

Hai là, tư bản cho vay là một hàng hoá đặc biệt, vì khi cho vay người bán không mất quyền sở hữu, còn người mua chỉ được mua quyền sử dụng trong một thời

gian nhất định. Và khi sử dụng thì giá trị của nó không mất đi mà còn tăng lên; giá cả của nó không do giá trị mà do giá trị sử dụng của tư bản cho vay, do khả năng tạo ra lợi tức của nó quyết định. Lợi tức chính là gía cả của hàng hoá tư bản cho vay.

Ba là, tư bản cho vay là tư bản được ‘sùng bái” nhất do vận động theo côngthức T -T’, trong đó T’ = T + z nên nó gây ấn tượng hình thức rằng tiền có thể đẻ ra tiền.

Nguồn gốc và bản chất của lợi tức: Nguồn gốc: Giá trị thặng dư m

Bản chất: Mối quan hệ chiếm đoạt, gián tiếp

Lợi tức (z) chính là một phần của lợi nhuận bình quânmà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay căn cứ vào lượng tư bản tiềntệ mà nhà tư bản cho vay đã bỏ ra cho nhà tư bản đi vay sử dụng.

● Là một biến tướng của lợi nhuận bình quân, khoản dôi ra phải trả cho chủ sở hữu khi đến kỳ đáo hạn. ● Là một biến tướng của giá trị thặng dư m, phản ánh mối quan hệ chiếm đoạt. b. Phân tích bản chất kinh tế của địa tô tư bản chủ nghĩa và các hình thức địa tô? Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa. Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân để tiến hành sản xuất. Do đó nhà tư bản phải trích một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ dưới hình thức địa tô. Như vậy, địa tô tư bản chủ nghĩa là mộtbộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất. c. Phân tích sự hình thành địa tô chênh lệch. Phân biệt địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II? Nông nghiệp có một số đặc điểm khác với công nghiệp, như số lượng ruộng đất bị giới hạn; độ màu mỡ tự nhiên và vị trí địa lý của ruộng đất không giốngnhau; các điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phương ít biến động; nhu cầu hàng hoánông phẩm ngày càng tăng. Do đó, xã hội buộc phải canh tác trên ruộng đất xấu nhất (vềđộ màu mỡ và vị trí địa lý) nên giá cả hàng hoá nông phẩm được hình thành trên cơ sở điều kiện sản xuất xấu nhất chứ không phải ở điều kiện trung bình như trong công nghiệp. Vì thế, canh tác trên đất tốt và trung bình sẽ có lợi nhuận siêu ngạch. Phần lớnlợi nhuận siêu ngạch sẽ tồn tại thường xuyên, tương đối ổn định và chuyểnhoá thành địa tô chênh lệch. Như vậy, địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình (ký hiệu Rcl) Địa tô chênh lệch có hai loại là địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II + Địa tô chênh lệch I là loại địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi. Chẳng hạn, có độ màu mỡ tự nhiên trung bình, tốt và có vị trí gần nơi tiêu thụ hay gần đường giao thông

tìm cách nâng giá cho thuê ruộng đất, tức là biến lợi nhuận siêu ngạch do đầu tư thâm canh đem lại (địa tô chênh lệch II) thành địa tô chênh lệch I. Tình trạng này dẫn đến mâu thuẫn: nhà tư bản thuê đất muốn kéo dài thời hạn thuê, còn địa chủ lại muốn rút ngắn thời hạn cho thuê. Do đó, trong thời gian thuê đất, nhà tư bản tìm mọi cách quay vòng, tận dụng, vắt kiệt độ màu mỡ đất đai. Câu 13: Đặc điểm giai cấp công nhân? “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định,hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nềncông nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính xã hộihoá ngày càng cao, là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” ( Mác – Ăngghen ). Do đó, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất thời đại ngày nay, “công nhân là một phát minh của thời đai mới”.

Thứ nhất, giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để nhất.

Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng vì họ đại biểucho phương thức sản xuất tiên tiến gắn liền với những thành tựu khoa học công nhiệp hiện đại. Đó là giai cấp được trang bị môt lý luận khoa học, cách mạng (chủ nghĩa Mác -Lênin) và luôn luôn đi đầu trong mọi phong trào cách mạng theo mục tiêu xóa bỏ chế độ cũ lạc hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ, nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo các giai cấp, tầng lớp khác vào phong trào cách mạng.

Trong cuộc cách mạng tư sản, giai cấp tư sản chỉ có tinh thần cáchmạng trong thời kỳ đấu tranh chống chế độ phong kiến, còn khi giai cấp này đã giànhđược chính quyền thì họ quay trở lại bóc lột giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, những giai cấp đã từng đi với giai cấp tư sản trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Khác với giai cấp tư sản, giai cấp công nhân, lại bị giai cấp tư sản bóc lột nặng nề, có lợi ích cơ bản đối lập trực tiếp với lợi ích của giai cấp tư sản. Điều kiện sống, điều kiện lao động trong chế độ tư bản chủ nghĩa đã chỉ cho họ thấy, họ chỉ có thể được giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thứ hai, giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức kỷ luật cao.

Giai cấp công nhân lao động trong nền sản xuất đại công nghiệp với hệ thống sản xuất mang tính chất dây chuyền và nhịp độ làm việc khẩn trương, buộcgiai cấp này phải tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động, cùng với cuộc sống đô thị đã tạo nên tính tổ chức, kỷ luật chặt chẽ của giai cấp công nhân.

Khi giai cấp công nhân tham gia vào các tổ chức nghiệp đoàn, côngđoàn, tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản cũng đòi hỏi giai cấpnày phải có ý thức tổ chức kỷ luật chặt chẽ. Nhất là khi giai cấp công nhân được sự giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, tổ chức ra đảng cộng sản thì ý thức tổ chức kỷ luật lạicàng được nâng lên. Giai cấp công nhân không có ý thức tổ chức kỷ luật cao thì không thể giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản.

Thứ ba, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế.

Do địa vị kinh tế-xã hội của giai cấp công nhân trên toàn thế giới đều giống nhau và kẻ thù của giai cấp công nhân là chủ nghĩa đế quốc – lực lượng quốc tế. Vì vậy muốn giành thắng lợi, giai cấp công nhân buộc phải đoàn kết và hợp tác quốc tế mới chiến thắng kẻ thù.

Câu 14: Phân tích sứ mệnh lịch sử, nội dung cơ bản sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiến bộ, cho xu hướng phát triển của phương thức sản xuất tương lai; do vậy, về mặt khách quan nó là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ mọi chế độ áp bức, bóc lột và xây dựng xã hội mới – xã hội xã hộichủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa biểu hiện những khiếm khuyết không thể khắc phục được, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là: Thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; giải phóng mình đồng thời giải phóng toàn xã hội thoát khỏi tình trạng áp bức bóc lột. Ph.Ăngghen viết “thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”. V.Iênin đánh giá cao vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do Các và Ph.Ăngghen sáng lập và chỉ rõ “Điểm chủ yếu trong học thuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai tròlịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”

Theo quan điểm của của Các và Ph. Ăngghen, nội dungsứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được thực hiện qua hai bước:Bước thứ nhất:“ Giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu nhà nước…”. “Giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu nhà nước…” Bước thứ hai: “… giai cấp vô sản cũng tự thủ tiêu với tư cách là giai cấp vô sản, chính vì thế mà nó cũng xoá bỏ mọi sự phân biệt giai cấp và mọi đối kháng giai cấp”. Hai bước này quan hệ chặt chẽ với nhau: giai cấp công nhân không thực hiện được bước thứ nhất thìcũng không thực hiện được bước thứ hai nhưng bước thứ hai là quan trọng nhất để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp được các tầng lớp nhân dân lao động xung quanh nó, tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xã hội mới về mọi mặt từ kinh tế tới chính trị và văn hóa, tư tưởng. Đó là một quá trình lịch sử hết sức lâu dài và khó khăn.

Đặc điểm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Tham khảo: Bộ đề thi học kì 1 môn GDCD lớp 8 năm 2021 – 2022 5 Đề thi học kì 1 môn Giáo dục công dân lớp 8 (Có đáp án)

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân có những đặc điểm khác về chất so với sứ mệnh lịch sử của giai cấp tư sản cũng như cácgiai cấp khác trong lịch sử.

Trước hết , về kinh tế, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải là thực hiện sự chuyển biến từ chế độ tư hữu này sang một chế độ tư hữu khác, thay đổi hình thức bóc lột này bằng một hình thức bóc lột khác. Ngược lại, mục tiêu cuối cùng của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ chiếm hữu

Giai cấp tư sản muốn duy trì chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, duy trì chế độ bóc lột. Ngược lại, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân là muốn giải phóng mình thì phải xoá bỏ được chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, tức là phải lật đổ chính quyền tư sản, giành được chính quyền về tay mình, sử dụng chính quyền đó để xây dựng xã hội mới không còn tình trạng áp bức bóc lột. Giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp lao động khác do vậy tạo ra khả năng đoàn kết với quảng đại quần chúng lao động trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tưsản để giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội. Câu 16: Cách mạng xã hội chủ nghĩa là gì? Phân tích tính tất yếu của nó? Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng cuối cùng trong lịch sử, lần đầu tiên giai cấp công nhân đứng lên tổ chức lãnh đạo cách mạng giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bất công v_._ Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng nhằm thay thế chế độ cũ nhất là chế độ tư bản chủ nghĩa, bằng chế độ xã hội chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng đó, giai cấp công nhân là người lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao động khác xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Theo nghĩa hẹp , cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng chính trị, kết thúc bằng việc giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập được nhà nước chuyên chính vô sản- nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Theo nghĩa rộng , cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình hoàn thiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, được tiến hànhqua hai giai đoạn gồm giai đoạn giai cấp công nhân giành chính quyền, tổ chức thành giai cấp thống trị và giai đoạn giai cấp công nhân sử dụng chính quyền để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tính tất yếu của cách mạng chủ nghĩa xã hội: Cũng như mọi cuộc cách mạng xã hội khác đã diễn ra trong lịch sử, cách mạng xã hội chủ nghĩa là kết quả tất yếu của sự pháttriển những mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa tư bản, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất đã đạt tới trình độ xã hội hoá ngày càng cao làm choquan hệ xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất trở nên lạc hậu, lỗi thời. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt đến mức độ cần phải thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp mở đường cho lực lượng sản xuấtphát triển. “Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng”; “Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích ứng với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa (…) nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên”. Mâu thuẫn cơ bản giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội tư bản biểu hiện ra ngoài xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân- đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến với giai cấp tư sản- đại diện cho quan hệ sản xuất lạc

hậu, lỗi thời kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản luôn vận động không ngừng tạo ra sự đối kháng, mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt không thể điều hoà được cần được giải quyết bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sự phù hợp thực sự với tính chất ngày càng xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất chỉ có thể là sự thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất mới thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩaộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không tự diễn ra mà nó chỉ diễn ra khi giai cấp công nhân nhận thức được sứ mệnh lịch sử của mình, tập hợp được quần chúng lao động đứng xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa khi có thời cơ cách mạng. Câu 17: Phân tích mối quan hệ giữa Đảng cộng sản và giai cấp công nhân? – Giai cấp công nhân là cơ sở giai cấp của Đảng Cộng sản

Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản , Các và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Những người cộng sản không phải là một đảngriêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”. Giai cấp vô sản là cơ sở giai cấp của Đảng, là nguồn bổ xung lực lượng cho Đảng. Những đảng viên của Đảng cộng sản là những người công nhân có giác ngộ lý tưởng cách mạng, được trang bị lý luận cách mạng, tự giác gia nhập Đảng.

– Đảng Cộng sản là đội tiên phong chiến đấu, là lãnhtụ chính trị, là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân

Đảng Cộng sản là tổ chức chính trị cao nhất của giaicấp công nhân và nhân dân lao động, bao gồm những người ưu tú, tiên tiến nhất tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; nắm bắt được quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử; họ hơn hẳn bộ phận còn lại của giai cấp công nhân ở chỗ là họ hiểu được những điều kiện, tiến trình và kết quả của phong trào vô sản.

Đảng Cộng sản là lãnh tụ chính trị của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động. Nhờ có lý luận tiên phong của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng Cộng sản đã vận dụng vào điều kiện cụ thể đề ra cương lĩnh, đường lối chiến lược, sách lược, nhiệm vụ của quá trình cách mạng cũng như của từng giai đoạn cách mạng. Sau khi đề ra đường lối cách mạng đứng đắn, Đảng Cộng sản tập hợp,giáo dục, thuyết phục, tổ chức, động viên giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện, biến đường lối của Đảng thành hiện thực. Đảng Cộng sản là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, bố trí cán bộ lãnh đạo quá trình cách mạng.

Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động có sự thống nhất về tư tưởng và hành động, tập trung sức mạnh giai cấp và sức mạnh của dân tộc để tạo động lực cho cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi.

**Câu 18: Phân tích bản chất, nguồn gốc của tôn giáo? Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo trong thời kỳ hội nhập?

  • Nguồn gốc:**
  • Những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác tôn giáo trong tình hình mới:
  • Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

  • Đảng, Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào không theo tôn giáo và đồng bào theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  • Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Động viên đồng bào nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thông qua thực hiện tốt các chính sách kinh tế – xã hội, anninh – quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

  • Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; trong đó, các tổ chức quần chúng có vai trò quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước đối với các tôn giáo.

  • Công tác tôn giáo, chính sách tôn giáo:
  • Thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

  • Tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khốiđại đoàn kết toàn dân tộc.

  • Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo trong quần chúng, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ cở. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  • Tăng cường thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảngvà Nhà nước, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo; tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống đối chế độ.

  • Hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

● Vấn đề theo đạo và truyền đạo :

  • Mọi tín đồ điều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và các cơ sở thờ tự hợp pháp.

  • Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ.

  • Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép vi phạm các qui định của hiến pháp và pháp luật.

VĂN HÓA

● Khái niệm :

Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.

  • Nghĩa rộng : Văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinhthần. “Văn hoá là sự tổng hoà của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nómà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi củasự sinh tồn” (Hồ Chí Minh)

  • Nghĩa hẹp : văn hoá vật chất là năng lực sáng tạo của con ngườiđược thểhiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất; văn hoá tinh thần là tổng thểcác tưtưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trongđời sống tinh thần và hoạtđộng tinh thần của con người. ● Vai trò của văn hóa : Văn hóa là tài sản tinh thần chung của dân tộc, là yếu tố đặc biệt trong sựgắn kết cộngđồng thành một khối thống nhất. Thủ tướng Phạm VănĐồng khẳngđịnh: “Văn hóa là sợi chỉ đỏxuyên suốt toàn bộlịch sửcủa dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh, tưởng chừng nhưkhông thểvượt quađược,đểkhông ngừng phát triển và lớn mạnh ”. Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, làđộng lực của sựphát triển, nó luôn mang tính chủ động, có khảnăngđi trước, vừa là nhân tốkhởi xướngđổi mớiđồng thời cũng là nơi tiếp nhận thành quả của đổi mới. ● Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Vềcơbản, xã hội bao gồm và hiện hữu hai nền tảng: Nền tảng vật chất và nền tảng tinh thần. Nền tảng vật chất có thểbao gồm các yếu tốnhưnhà cửa, phương tiện đi lại, giao thông…., nói cách khácđó là các yếu tốkinh tếvà nền tảng tinh thần không gì khácđó chính là các giá trịvăn hoá. Hai bộphận này bổsung cho nhau, cùng phát triển và cùng thúc đẩy xã hội. Nền tảng tinh thần của dân tộc Việt Nam chính là những giá trịtruyền thống do nhân dân ta sáng tạo ra trong hàng nghìn năm lịch sử,được gạn lọc,đúc kết tạo nên những nét riêng, bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Nóđược truyền từthếhệnày sang thếhệkhác,được lưu giữmuônđời, tạo ra một cốt cách Việt Nam không một dân tộc nào có thể nhầm lẫn được. Văn hóa khôngđứng ngoài phát triển. Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực thúcđẩy sựphát triển kinh tế- xã hội theođịnh hướng xã hội chủnghĩaởnước ta. Phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội gắn kết chặt chẽ,đồng bộvà tương xứng với nhiệm vụphát triển kinh tế(là trung tâm); xây dựng chỉnhđốnĐảng (là then chốt) chính làđiều kiện quyếtđịnh sựphát triển

    Tham khảo: Bộ đề thi học kì 1 môn Vật lý lớp 7 năm 2021 – 2022 4 Đề thi Vật lý 7 học kì 1 (Có ma trận, đáp án)

Bình chọn
5/5
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on pinterest

Khám phá nhiều chủ đề khác